Văn hóa Chăm tại làng điêu khắc đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn

làng điêu khắc đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn là một cụm núi đá vôi thấp nằm giữa vùng cát trắng, có chiều dài khoảng 2 km, rộng 800 m thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 7 km về phía đông nam. Nơi đây còn lưu giữ nhiều di tích, di vật quan trọng, liên quan đến đời sống tín ngưỡng của cư dân Champa trong những thế kỷ trước.

I. Đôi nét về người Chăm

Khu vực ven biển miền Trung Việt Nam từ Quảng Bình đến Bình Thuận và một phần Tây Nguyên từ lâu đã là địa bàn sinh tụ của các cư dân thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, trong đó người Chăm là đông nhất. Năm 179 trước Công nguyên (CN), Triệu Đà từ phương Bắc cất quân xâm lược phương Nam, tiến chiếm cả vùng đất này. Năm 111 trước CN, nhà Hán tiếp tục cai trị vùng đất này, đặt thành quận Nhật Nam. Đến năm 192 sau CN, Khu Liên lãnh đạo nhân dân huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam đánh đuổi quân Hán ra khỏi bờ cõi, lập nên một quốc gia độc lập, sử Trung Quốc gọi tên nước này là Lin Yi (Lâm Ấp). Đến thế kỷ VII, vua Sambhuvarman cai trị vương quốc này, đặt tên nước là Champa, kinh đô đóng ở Sinhapura (nay là Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam). Tuy nhiên, người Trung Quốc lại gọi vương quốc Champa là Hoàn Vương (758 – 859), sau đó lại đổi gọi là Chiêm Thành.

Dân tộc Chăm là tên gọi thông dụng đối với cư dân của vương quốc Champa. Cộng đồng dân tộc Chăm hình thành từ hai thị tộc: thị tộc Cau ở phương Nam và thị tộc Dừa ở phương Bắc. Về không gian sinh tồn, vương quốc Champa có 5 vùng: Amaravati (tương ứng với vùng đất từ Quảng Bình đến Huế hiện nay); Indrapura (Quảng Nam – Đà Nẵng), Vijaya với kinh đô là thành Chà Bàn/Đồ Bàn (Quy Nhơn – Bình Định), Kauthara (Khánh Hòa), Pandurangar (Bình Thuận – Đồng Nai).

Đầu thế kỷ XIV, khi công chúa Huyền Trân của Đại Việt được gả cho Chế Mân, thì sính lễ của Champa trao lại cho Đại Việt là hai châu Ô – Lý.1 Năm 1307, nhà Trần đổi hai châu Ô – Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu. Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông chia Champa làm ba nước nhỏ. Sau đó, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong dần dần kiểm soát phần đất đai còn lại của Champa, năm 1693 thì kiểm soát toàn bộ miền đất Phan Rang – Bình Thuận. Tuy nhiên, người Chăm vẫn được chúa Nguyễn và nhà Nguyễn phong vương. Đến năm 1822, khi vị vua Chăm cuối cùng là Po Chơn Chan bỏ sang Campuchia thì vương triều Champa thật sự chấm dứt.

Trong nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, người Chăm đã xây dựng cho mình một nền văn minh đặc sắc, chịu nhiều ảnh hưởng của văn minh Ấn Ðộ. Họ đã để lại dọc mảnh đất miền Trung, Tây Nguyên những dấu ấn về văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo, mà Ngũ Hành Sơn là một trong những nơi còn lưu giữ nhiều di tích, di vật có liên quan đến đời sống, tôn giáo tín ngưỡng của họ.

II. Văn hóa Chăm tại Khu Di tích – Danh thắng Ngũ Hành Sơn

làng điêu khắc đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn còn có tên: Non Nước; Ngũ Uẩn Sơn (núi 5 chòm); Ngũ Chỉ Sơn (5 ngón tay); Phổ Đà Sơn; Tam Thai; Montagne de Singes (núi Khỉ); Rocher de Faifo (núi Faifo); Montagne de Marbre (núi Cẩm Thạch); Montagne de Touran (núi Đà Nẵng). Năm 1837, trong một chuyến viếng thăm Ngũ Hành Sơn, vua Minh Mạng đã dựa theo nguyên lý Ngũ Hành của Khổng giáo mà đặt tên nhóm núi này là Ngũ Hành Sơn, gồm các ngọn: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn (riêng Hỏa Sơn có 2 ngọn là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn).

Theo các tài liệu về địa chất học, người ta cho rằng, các hòn núi trong làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn có nguồn gốc phiến nham thuộc thời kỳ nhị điệp kỷ, cách ngày nay khoảng 25 triệu năm. Đá ở đây đều là loại đá vôi thuộc về cẩm thạch biến chất, thường có màu hồng, đôi khi có màu đỏ hoặc màu đen. Ban đầu Ngũ Hành Sơn là những hòn đảo nằm trên biển đông, trải qua hàng triệu năm, gió và nước đã xâm thực tạo thành những hang động và hình thù kỳ dị, làm cho núi có những sắc thái đặc thù. Do quá trình biển lùi, nhóm đảo này được nối liền với lục địa và trở thành 6 ngọn núi như ngày nay.

Dấu tích của con người ở làng đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn có từ rất sớm, thể hiện qua các di chỉ khảo cổ dưới chân ngọn Hỏa Sơn. Đồng thời, Ngũ Hành Sơn cũng là nơi mà cư dân Champa xưa thờ cúng thần linh của mình trong nhiều thế kỷ, còn lưu lại đến ngày nay qua hình thức tín ngưỡng thờ linga – yoni, những tượng thần được chạm trổ công phu trên các bệ đá ở động Tàng Chơn, trong động Huyền Không.

Hiện vật khảo cổ học

Tháng 3/2000, Khoa Lịch sử của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Bảo tàng Thành phố Đà Nẵng, lập một đoàn khảo sát, do cố GS. Trần Quốc Vượng làm trưởng đoàn, tiến hành khảo sát các khu vực xung quanh trung tâm thành phố Đà Nẵng, trong đó có Ngũ Hành Sơn. Tại khu di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn, các nhà khảo cổ tiến hành đào thám sát ở phía nam ngọn Thổ Sơn. Tháng 11 và tháng 2/2000, đoàn tiến hành mở hai hố khai quật cách chân ngọn Thổ Sơn hơn 100m về phía đông nam, với tổng diện tích 72,5m2.

Tại hai hố khai quật, các nhà khảo cổ phát hiện nhiều hiện vật có xuất xứ từ Trung Quốc và các nước Hồi giáo ở Trung Đông… Đặc biệt, họ đã tìm thấy rất nhiều mảnh gốm và đồ gốm Chăm, có cùng chất liệu và niên đại với những hiện vật gốm Chăm được khai quật ở di chỉ Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng Nam) và di chỉ Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam). Gốm ở di chỉ Nam Thổ Sơn gồm 3 nhóm chất liệu chính của gốm Chăm là gốm mịn, gốm thô và và gốm hơi thô, với nhiều loại hình như:

a. Nồi: Có 6.603 tiêu bản nồi, nhưng hầu hết bị vỡ, được làm từ chất liệu thô có pha nhiều cát và bã thực vật, được nung ở nhiệt độ cao nên xương gốm có màu đen. Qua những tiêu bản nồi gốm, các nhà khảo cổ nhận định các hiện vật này được sản xuất bằng bàn xoay nên hình dáng cân đối, độ dày đều, có những vết xước chìm chạy quanh miệng hoặc vai. Hoa văn trang trí chủ yếu là văn thừng, khắc vạch… Căn cứ vào kiểu miệng, các nhà khảo cổ đã chia ra nhiều kiểu nồi, như:

– Miệng nồi loe xiên, miệng có gờ nổi chạy quanh vành miệng, vai xiên thân dẹp;

– Miệng nồi loe xiên, mép miệng thẳng, thân nồi hình cầu tròn gắn liền với vành cổ, nồi không có vai;

– Miệng nồi loe ngang, mép miệng vuốt gần nhọn, thân nồi gắn liền với cổ;

– Miệng nồi loe ngang, vành miệng dày có đường gờ nổi phía trên, vai xuôi hoặc không có vai;

– Miệng nồi loe ngang, vành miệng hẹp, mỏng, miệng nồi cong hình máng, cổ thắt thân khum dần xuống đáy.

b. Kendy: Có 3.750 tiêu bản kendy, nhưng đều bị vỡ nát, được làm từ chất liệu sét mịn và hơi thô. Người thợ gốm đã kết hợp giữa kỹ thuật bàn xoay (tạo bầu, vò) với kỹ thuật nặn tay (tạo vò, gắn tai), miết láng… Dựa vào kiểu dáng, các nhà khảo cổ phân loại hình này thành nhiều dạng kendy:

– Miệng đứng, méo miệng loe ra ngoài, cổ có đường gờ nổi tạo thành hình sóng lượn;

– Miệng đứng, méo miệng loe ra ngoài, cổ đứng nhưng phẳng, không có gờ tạo sóng;

– Miệng loe ra ngoài, cổ ngắn hoặc không có cổ thân phình hình cầu;

– Miệng loe ngang, mép miệng có đường chỉ chìm chạy quanh cổ vò ngắn và xuống thân. Các chân đế của vò thấp, đáy có đường kính trung bình 9 – 12cm.

c. Quả bồng: Có 1 tiêu bản, loại quả bồng chân đế loe rộng khoảng 8cm, cao 3,7cm, giữa chân đế có lỗ tròn nhỏ. Đây là loại gốm thô có màu vàng nhạt, xương gốm xốp, không trang trí hoa văn.

d. Chén nhỏ: Có 1 tiêu bản, đường kính miệng 3,2cm, cao 3,5cm, đường kính đáy 4,2cm, được nặn từ loại gốm thô pha nhiều cát có màu vàng nhạt.

e. Quai gốm: Có 1 tiêu bản làm từ gốm hơi thô màu đỏ, dáng cong, tiết diện tròn.

f. Nắp đậy: Có 2 tiêu bản nhưng đều bị vỡ vành miệng, chỉ còn lại phần núm cầm. Gốm có màu đỏ nhạt, xương gốm mịn.

g. Lọ hoa: Có 1 tiêu bản nhưng đã bị vỡ phần miệng, được làm bằng chất liệu hơi thô, không trang trí hoa văn.

Ngoài những hiện vật gốm trên, các nhà khảo cổ còn tìm thấy ở di chỉ Nam Thổ Sơn một số lõi gạch nhỏ đã vỡ và bị bào mòn theo thời gian và 16 tiêu bản mảnh ngói. Ngoài ra, còn có 334 tiêu bản sành thuộc loại hình vò đựng nhưng đều bị vỡ nát, chỉ có 1 tiêu bản còn khá nguyên vẹn cả miệng, thân, đáy. Các nhà khảo cổ nhận định, những vò sành Chăm phát hiện trong hai hố khai quật ở Nam Thổ Sơn đều được sản xuất bằng bàn xoay, chất liệu mịn hoặc hơi thô, xương gốm màu xám tro hoặc xám đen, độ nung cao nên xương gốm chắc, mặt ngoài có màu xám. Vò sành Chăm không phủ men, không trang trí hoa văn.2

Thông qua cuộc khai quật khảo cổ học tại di chỉ Nam Thổ Sơn, đã phần nào chứng tỏ vùng đất dưới chân núi Ngũ Hành từng là khu vực sinh tụ của cư dân Champa từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX.3

Trả lời

Gọi điện thoại
0905.229.636